1726 – 1784

Lê Quý Đôn

Nhà bác học lớn nhất thời phong kiến Việt Nam

Quê quán / gốc tích: Diên Hà (Thái Bình)

☯ Dịch học – Lý số

Đỗ Bảng nhãn, làm quan dưới triều Lê – Trịnh. Ông để lại khối trước tác đồ sộ về sử học, địa lý, triết học, văn học.

Cuộc đời & sự kiện chính

  1. 1752

    Đỗ Bảng nhãn.

  2. 1760

    Đi sứ nhà Thanh.

  3. 1776

    Hoàn thành “Phủ biên tạp lục”, có ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa.

  4. 1784

    Mất.

Kinh Dịch & Lý số

Trong khối trước tác đồ sộ của nhà bác học Lê Quý Đôn có phần triết học bàn về kinh điển. Trong đó, “Dịch kinh phu thuyết” trình bày giản lược nghĩa lý Kinh Dịch. Cùng nhóm với nó là “Thư kinh diễn nghĩa”, “Xuân Thu lược luận” và “Quần thư khảo biện”. Ông xem Dịch là gốc của học thuật, nơi bàn về lẽ biến hoá của trời đất và cách ứng xử của người quân tử.

  • Dịch kinh phu thuyết – trình bày ý nghĩa Kinh Dịch
  • Thư kinh diễn nghĩa – giảng giải Kinh Thư
  • Vân đài loại ngữ – bộ bách khoa 9 quyển, có phần bàn về vũ trụ, trời đất

Cậu bé đọc sách không sót chữ

Tương truyền Lê Quý Đôn từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh. Năm lên hai đã biết chữ, lên năm đã đọc được kinh sách. Người làng Diên Hà gọi ông là “thần đồng”.

Một lần có vị khách đến chơi nhà muốn thử tài cậu bé, bèn ra đề bắt làm bài thơ về con rắn ngay trước mặt. Cậu bé không chút lúng túng, ứng khẩu một bài thơ chữ Nôm. Bài thơ vừa đúng đề vừa cài khéo tên các loài rắn, khiến khách phải chịu phục.

Lớn lên, ông đỗ đầu cả thi Hội lẫn thi Đình năm 1752, rồi đi sứ nhà Thanh năm 1760 và trao đổi học thuật với nhiều học giả nước ngoài. Kho tri thức ấy kết tinh thành hàng trăm quyển sách, trong đó có những trang bàn về Kinh Dịch.

Nguồn: Giai thoại dân gian về thời thơ ấu của Lê Quý Đôn.

Di sản & ghi nhận

Tác giả Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ, Đại Việt thông sử; Phủ biên tạp lục là tư liệu quan trọng về chủ quyền biển đảo.

Thuộc thời kỳ

Nhân vật cùng thời