Mở bất kỳ cuốn sách Kinh Dịch nào, bạn cũng sẽ gặp tám quẻ: Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Tám quẻ ấy không phải tám ký hiệu đặt ra tuỳ ý. Chúng được sinh ra từng bước, từ một gốc duy nhất, theo đúng một quy tắc: cứ mỗi bước, một lại chia làm hai.

Thiên Hệ Từ trong Kinh Dịch tóm cả quá trình ấy trong một câu:

Dịch hữu Thái Cực, thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái.

Nghĩa là: Dịch có Thái Cực, Thái Cực sinh ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh ra Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh ra Bát Quái. Bài này đi lần lượt qua từng bước đó. Bạn có thể xem video trước rồi đọc phần chữ bên dưới để tra lại khi cần.

Thái Cực: cái gốc chưa phân chia

Thái Cực là trạng thái ban đầu, khi mọi thứ còn là một khối, chưa có sáng tối, trên dưới, động tĩnh. Người xưa hình dung đó là lúc trời đất chưa tách khỏi nhau. Thái Cực chưa phải là âm, cũng chưa phải là dương, nhưng chứa sẵn cả hai.

Hình tròn có hai nửa đen trắng ôm lấy nhau mà ta quen gọi là "hình Thái Cực" chính là để diễn tả ý này: một khối duy nhất, bên trong đã có mầm của hai mặt đối lập.

Lưỡng Nghi: một chia làm hai

Thái Cực vận động thì tách thành hai mặt, gọi là Lưỡng Nghi:

  • Dương, ghi bằng một vạch liền (⚊): sáng, nóng, cứng, động, đi lên.
  • Âm, ghi bằng một vạch đứt (⚋): tối, lạnh, mềm, tĩnh, đi xuống.

Âm và dương không phải hai thứ tách rời hay đối địch. Chúng là hai mặt của cùng một sự vật: có ngày thì có đêm, có nóng thì có lạnh. Mỗi vạch liền hay đứt như vậy gọi là một hào. Toàn bộ Kinh Dịch chỉ dùng đúng hai loại hào này.

Tứ Tượng: hai chia làm bốn

Một hào chỉ nói được "âm" hay "dương". Để diễn tả mức độ nhiều ít, người xưa chồng thêm một hào nữa lên trên. Trên vạch dương có thể thêm dương hoặc âm, trên vạch âm cũng vậy, nên được bốn hình hai hào, gọi là Tứ Tượng. Hào luôn được vẽ và đọc từ dưới lên.

  • Thái Dương: dương ở dưới, dương ở trên. Dương cực thịnh, ứng với mùa hạ.
  • Thiếu Âm: dương ở dưới, âm ở trên. Trong dương bắt đầu sinh âm, ứng với mùa thu.
  • Thiếu Dương: âm ở dưới, dương ở trên. Trong âm bắt đầu sinh dương, ứng với mùa xuân.
  • Thái Âm: âm ở dưới, âm ở trên. Âm cực thịnh, ứng với mùa đông.

Tứ Tượng cho thấy âm dương không đứng yên mà chuyển dần sang nhau, giống như bốn mùa nối tiếp trong một năm.

Bát Quái: bốn chia làm tám

Lặp lại đúng cách làm ấy thêm một lần: trên mỗi tượng, thêm một hào dương hoặc một hào âm. Bốn tượng, mỗi tượng sinh hai, thành tám hình ba hào. Đó là Bát Quái, tám quẻ đơn. Thứ tự sinh ra cũng chính là số thứ tự của tám quẻ, gọi là số Tiên Thiên:

  • Thái Dương thêm dương → 1. Càn ☰; thêm âm → 2. Đoài ☱
  • Thiếu Âm thêm dương → 3. Ly ☲; thêm âm → 4. Chấn ☳
  • Thiếu Dương thêm dương → 5. Tốn ☴; thêm âm → 6. Khảm ☵
  • Thái Âm thêm dương → 7. Cấn ☶; thêm âm → 8. Khôn ☷

Vì sao dừng ở ba hào? Người xưa coi ba hào là đủ để ứng với Tam Tài: hào trên là Trời, hào giữa là Người, hào dưới là Đất. Về mặt con số, ba hào, mỗi hào có hai khả năng, cho đúng 2 × 2 × 2 = 8 quẻ, không thừa không thiếu.

Tám quẻ tượng trưng cho điều gì?

Mỗi quẻ đơn ứng với một hiện tượng lớn trong tự nhiên, một hành trong Ngũ Hành và một người trong gia đình:

  • Càn ☰: Trời (Thiên), hành Kim, người cha. Ba hào dương: mạnh mẽ, cứng cỏi.
  • Đoài ☱: Đầm, hồ (Trạch), hành Kim, con gái út. Vui vẻ, lời nói.
  • Ly ☲: Lửa (Hỏa), hành Hỏa, con gái giữa. Sáng sủa, bám dựa.
  • Chấn ☳: Sấm (Lôi), hành Mộc, con trai trưởng. Chấn động, khởi đầu.
  • Tốn ☴: Gió (Phong), hành Mộc, con gái trưởng. Thuận theo, len vào.
  • Khảm ☵: Nước (Thủy), hành Thủy, con trai giữa. Hiểm trở, sâu kín.
  • Cấn ☶: Núi (Sơn), hành Thổ, con trai út. Dừng lại, vững chãi.
  • Khôn ☷: Đất (Địa), hành Thổ, người mẹ. Ba hào âm: mềm mỏng, bao dung.

Mẹo nhớ hình tám quẻ

Người học Dịch thường thuộc lòng câu vè sau, mỗi vế tả đúng hình một quẻ:

Càn tam liên, Khôn lục đoạn, Chấn ngưỡng bồn, Cấn phúc uyển, Ly trung hư, Khảm trung mãn, Đoài thượng khuyết, Tốn hạ đoạn.
  • Càn tam liên: ba vạch đều liền.
  • Khôn lục đoạn: ba vạch đều đứt, thành sáu đoạn.
  • Chấn ngưỡng bồn: như cái chậu để ngửa, liền ở đáy, hai vạch trên đứt.
  • Cấn phúc uyển: như cái bát úp, liền ở trên cùng, hai vạch dưới đứt.
  • Ly trung hư: rỗng ở giữa, vạch giữa đứt.
  • Khảm trung mãn: đầy ở giữa, vạch giữa liền.
  • Đoài thượng khuyết: khuyết ở trên, vạch trên cùng đứt.
  • Tốn hạ đoạn: đứt ở dưới, vạch dưới cùng đứt.

Từ 8 quẻ đơn đến 64 quẻ Kinh Dịch

Tám quẻ đơn mới tả được những hiện tượng lớn. Để nói về từng việc cụ thể trong đời sống, người xưa chồng hai quẻ đơn lên nhau: quẻ dưới gọi là Hạ quái (nội quái), quẻ trên gọi là Thượng quái (ngoại quái). Tám quẻ trên ghép với tám quẻ dưới cho 8 × 8 = 64 quẻ kép, mỗi quẻ sáu hào. Đó chính là 64 quẻ của Kinh Dịch.

Tên quẻ kép đọc từ trên xuống. Ví dụ trên là Ly (Hỏa), dưới là Khảm (Thủy) thì gọi là Hỏa Thủy Vị Tế; trên là Khôn (Địa), dưới là Càn (Thiên) thì là Địa Thiên Thái.

Dùng ngay: lập một quẻ dịch

Số Tiên Thiên từ 1 đến 8 không chỉ để học thuộc. Khi lập quẻ theo số seri tờ tiền hay theo Mai Hoa, người ta cộng các con số lại rồi chia cho 8, số dư chính là số của quẻ: dư 1 là Càn, dư 2 là Đoài… chia hết thì là Khôn.

Bạn có thể thử ngay tại trang Lập quẻ Kinh Dịch của Tử Vi Giác Ngộ: nhập số seri một tờ tiền, hệ thống sẽ quy ra Thượng quái, Hạ quái, hào động và an đầy đủ lục thân, lục thú cho quẻ.